Enter your keyword

Phân tích điểm mới Nghị định 139/2017/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đầu tư  xây dựng; kinh doanh bất động sản; sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng

Phân tích điểm mới Nghị định 139/2017/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng; kinh doanh bất động sản; sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng

Nghị định 139/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/01/2018 thay thế Nghị định 121/2013/NĐ-CP bổ sung nhiều điểm mới tích cực so với quy định cũ. Công ty Luật Thiện Minh Long giới thiệu và phân tích một số điểm mới nổi bật sau:

Về đối tượng, phạm vi

Nghị định bổ sung thêm đối tượng áp dụng và các hành vi vi phạm, đặc biệt các khung phạt cao hơn, mang tính răn đe hơn.

Nguyên tắc xử phạt hành chính

Khoản 2 điều 2 Nghị định 121/2013/NĐ-CP quy định:

“Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm nhiều công trình hạng mục công trình mà chủ đầu tư, nhà thầu có hành vi vi phạm hành chính giống nhau đối với nhiều công trình, hạng mục công trình thì hành vi vi phạm tại mỗi công trình, hạng mục công trình vi phạm được xác định là một hành vi vi phạm hành chính”

Điểm a khoản 2 điều 2 Nghị định 139/2017/NĐ-CP quy định:

“Tổ chức, cá nhân thực hiện cùng một hành vi vi phạm hành chính tại nhiều công trình, hạng mục công trình thuộc dự án đó mà chưa bị xử phạt và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nay bị phát hiện thì bị coi là vi phạm hành chính nhiều lần”

Như vậy, theo quy định cũ mỗi vi phạm hành chính giống nhau đối với nhiều hàng mục, công trình trong một dự án được xác định là một hành vi vi phạm. Nhưng theo quy định mới thì một hành vi vi phạm tại nhiều công trình, hạng mục thuộc một dự án coi là vi phạm nhiều lần như một tình tiết tăng nặng.

Một số quy định nổi bật:

– Bỏ quy định nộp phạt để hợp thức hóa công trình vi phạm

Nghị  định 139  bỏ quy định khoản 9 điều 13 Nghị  định 121 về việc cho chủ đầu tư nộp phạt để được cấp phép, hợp thức hóa các công trình đã có sai phạm. Như vậy, kể từ thời điểm Nghị định 139 có hiệu lực, các công trình sai phạm và không được điều chỉnh giấy phép xây dựng trong thời hạn quy định sẽ phải buộc thảo dỡ. Việc bỏ quy định nộp phạt để được hợp thức hóa công trình sai phạm sẽ hạn chế được các hành vi sai phạm, tiêu cực trong công tác quản lý xây dựng.

– Vi phạm quy định về hợp đồng xây dựng:

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm:

+  Không có thỏa thuận liên danh đối với bên nhận thầu là liên danh nhà thầu;

+  Hợp đồng xây dựng không sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt theo quy định.

Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm:

+ Giá ký kết hợp đồng vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo hợp đồng xây dựng;

+ Mức tạm ứng hợp đồng vượt quá tỷ lệ % quy định hoặc tạm ứng hợp đồng khi chưa có bảo lãnh tạm ứng theo quy định;

+ Quyết toán hoặc thanh lý hợp đồng xây dựng chậm quá thời hạn quy định đối với hợp đồng xây dựng sử dụng vốn nhà nước.

– Phạt vi phạm của chủ đầu tư khi thực hiện dự án phát triển đô thị:

Phạt tiền 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với các hành vi:

+ Để chủ đầu tư thứ cấp thực hiện đầu tư xây dựng không phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng hoặc tiến độ dự án đã được phê duyệt (nếu có);

+ Thay đổi chủ đầu tư cấp 1 mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản;

+ Điều chỉnh dự án mà chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét chấp thuận;

+ Không hoàn thành thủ tục để được công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công trình theo quy định đối với công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng;

+ Không tổ chức khai thác cung cấp dịch vụ đô thị đảm bảo phục vụ nhu cầu của dân cư đến ở theo đúng mục tiêu của dự án cho đến khi chuyển giao cho chính quyền hoặc các tổ chức, doanh nghiệp quản lý dịch vụ chuyên nghiệp.

Quy định này đã tăng trách nhiệm của chủ đầu tư khi thực hiện dự án nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng.

– Tăng mức phạt và quy định rõ thêm các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh bất động sản, huy động vốn và bán nhà ở hình thành trong tương lai:

Phạt tiền từ 250.000.000 đống đến 300.000.000 đồng đối với các hành vi:

+ Kinh doanh bất động sản mà bất động sản đó không đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định hoặc không được phép đưa vào kinh doanh theo quy định;

+ Triển khai xây dựng dự án kinh doanh bất động sản, dự án đầu tư xây dựng nhà ở chậm tiến độ đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

+ Bán hoặc cho thuê mua nhà ở thương mại hình thành trong tương lai mà chưa được ngân hàng thương mại có đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nghĩa vụ tài chính theo quy định;

+ Không làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên mua, bên thuê mua hoặc không cung cấp hồ sơ, giấy tờ pháp lý liên quan cho người mua, thuê mua nhà ở theo quy định;

+ Từ chối xác nhận mà không có lý do chính đáng hoặc xác nhận không đúng vào văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai;

Phạt tiền từ 270.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với chủ đầu tư dự án kinh doanh bất động sản có một trong các hành vi sau đây:

+ Chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án không đúng thủ tục quy định;

+ Chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án mà không đảm bảo đầy đủ các yêu cầu hoặc các điều kiện theo quy định;

+ Bàn giao nhà, công trình xây dựng cho khách hàng khi chưa hoàn thành việc xây dựng theo tiến độ ghi trong dự án đã được phê duyệt, chưa bảo đảm kết nối với hệ thống hạ tầng chung của khu vực, chưa hoàn thiện toàn bộ phần mặt ngoài (đối với trường hợp bàn giao nhà, công trình xây dựng thô) hoặc chưa hoàn thành nghiệm thu đưa công trình nhà ở, công trình hạ tầng xã hội vào sử dụng theo quy định;

+ Huy động hoặc chiếm dụng vốn trái phép; sử dụng vốn huy động của tổ chức, cá nhân hoặc tiền ứng trước của bên mua, bên thuê, bên thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai không đúng mục đích cam kết.